Dòng vốn FDI ''đổ'' vào Việt Nam vẫn có một số điểm yếu, một trong số đó là sự thiếu liên kết thực chất giữa khu vực FDI và khu vực doanh nghiệp trong nước.
FDI tiếp tục "tỏa sáng"
Theo báo cáo của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, trong 7 tháng đầu năm 2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đã đạt con số 38,06 tỷ USD, tăng mạnh 58% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, vốn FDI đăng ký cấp mới ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ. Cụ thể, cả nước có 2.429 dự án được cấp phép mới với tổng vốn đạt 21,05 tỷ USD. Dù số lượng dự án chỉ tăng 7,8%, nhưng quy mô vốn đăng ký mới lại cao gấp 2,1 lần cùng kỳ.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là lĩnh vực thu hút FDI lớn nhất khi chiếm 55% tổng vốn đăng ký cấp mới (đạt 11,58 tỷ USD). Tiếp theo là lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí, nước với 3,13 tỷ USD (chiếm 14,9%).
.png)
Ở thời điểm hiện tại, Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài. Ảnh: VGP
Cũng theo Cục Thống kê, một điểm trong những điểm sáng khác trong thu hút đầu tư nước ngoài là vốn FDI thực hiện tại Việt Nam ước đạt 15,20 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức vốn FDI thực hiện cao nhất của 7 tháng trong suốt 5 năm qua.
Trong đó, hơn 82,6% dòng vốn này (tương đương 12,55 tỷ USD) đã được giải ngân trực tiếp vào các nhà máy, xí nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.
Về vấn đề này, TS Huỳnh Thanh Điền, chuyên gia kinh tế đánh giá: Ở thời điểm hiện tại, Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài.
Theo ông, Việt Nam có nhiều lợi thế để thu hút dòng vốn FDI, trong đó có nền chính trị ổn định, đường lối đối ngoại rộng mở, thân thiện và linh hoạt.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng ký kết nhiều Hiệp định Thương mại tự do (FTA), trong đó có các nền kinh tế và khu vực kinh tế lớn trên thế giới, tạo lợi thế đáng kể cho hoạt động thương mại, đầu tư và thu hút FDI.
Ngoài ra, xu hướng đang tạo thêm cơ hội cho Việt Nam khi nhiều doanh nghiệp quốc tế có nhu cầu đa dạng hóa chuỗi cung ứng, tìm kiếm thêm địa điểm sản xuất tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
“Với vị trí địa lý thuận lợi, gần các trung tâm sản xuất lớn, Việt Nam hoàn toàn có thể đón nhận một phần dòng vốn và hoạt động sản xuất dịch chuyển trong quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu”, TS Huỳnh Thanh Điền nhấn mạnh.
“Bẫy” cần tránh
TS Phan Hữu Thắng, Chủ tịch Liên chi hội Tài chính Khu Công nghiệp Việt Nam (VIPFA), nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế Hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) khẳng định: Không thể phủ nhận đóng góp tích cực của khu vực FDI đối với tăng trưởng, việc làm và xuất khẩu trong nhiều năm trở lại đây.
Tuy nhiên, theo ông, dòng vốn FDI “đổ” vào Việt Nam vẫn có một số điểm yếu, một trong số đó là sự thiếu liên kết thực chất giữa khu vực FDI và khu vực doanh nghiệp trong nước.
“Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam vẫn tham gia chuỗi cung ứng FDI ở những khâu giá trị thấp nhất như: Gia công, lắp ráp, cung cấp nguyên liệu thô, mà không tiếp cận được công nghệ lõi, không có cơ hội học hỏi thiết kế hay nghiên cứu và phát triển”, TS Phan Hữu Thắng nói.
Trong bối cảnh đó, ông nhận định một số "bẫy" chiến lược mà Việt Nam cần tránh trong giai đoạn tới như: Thiếu liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước, khiến công nghệ cao chỉ tồn tại trong phạm vi doanh nghiệp có vốn nước ngoài mà không lan tỏa ra nền kinh tế.

TS Phan Hữu Thắng, Chủ tịch Liên chi hội Tài chính Khu Công nghiệp Việt Nam (VIPFA), nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Ảnh: VIPFA
Hoặc phụ thuộc quá mức vào bất động sản, làm suy giảm nguồn lực dành cho sản xuất và đổi mới sáng tạo. Công nghiệp hóa nhưng thiếu nền tảng khoa học công nghệ, dẫn đến tăng quy mô nhưng không cải thiện được chất lượng tăng trưởng.
Vì vậy, TS Phan Hữu Thắng đề xuất phát triển mô hình FDI chọn lọc gắn với chuyển giao công nghệ và lan tỏa nội địa.
Điểm then chốt nhất trong thiết kế chính sách, ông cho rằng, là chuyển từ tư duy ưu đãi sang ràng buộc có điều kiện. Cụ thể, với mọi dự án FDI công nghệ cao quy mô lớn, cần đặt ra ba điều kiện bắt buộc.
Thứ nhất là chuyển giao công nghệ thực chất, có lộ trình và cơ chế kiểm chứng cụ thể.
Thứ hai, liên doanh đồng đầu tư với doanh nghiệp Việt Nam, để doanh nghiệp trong nước có chỗ đứng thực sự chứ không chỉ làm thầu phụ.
Cuối cùng là liên kết hữu cơ với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nước, thay vì chỉ đặt nhà máy hay văn phòng đại diện.
Chiến lược này không thể vận hành nếu thiếu một bộ máy nhà nước được phân công rõ vai trò.
TS Phan Hữu Thắng nhấn mạnh: Bộ Tài chính, sau khi tiếp nhận chức năng của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cần đóng vai trò kiến trúc sư chiến lược FDI, chuyển trọng tâm từ "thu hút vốn" sang "lựa chọn dòng vốn chiến lược".
Bộ Công Thương cần là bộ chỉ huy công nghiệp hóa trong hoạch định chiến lược ngành và phát triển công nghiệp hỗ trợ. Bộ Khoa học và Công nghệ là động cơ công nghệ quốc gia, dẫn dắt R&D, phát triển AI và bán dẫn.
“Bộ Giáo dục và Đào tạo là nền móng dài hạn, chịu trách nhiệm cải cách giáo dục kỹ thuật và đào tạo STEM. Ngân hàng Nhà nước bảo đảm ổn định vĩ mô và mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng trung, dài hạn cho đổi mới công nghệ”, ông nói.
Việt Vũ /Báo Nhà báo và Công luận