Lãi suất cho vay đang tăng trở lại với mức tăng mạnh nhất kể từ giữa năm ngoái. Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng phục hồi, chi phí huy động vốn gia tăng và áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, nhiều chuyên gia cho rằng khả năng quay trở lại mặt bằng thấp như giai đoạn trước là không dễ xảy ra.

Lãi suất cho vay tăng mạnh nhất trong hơn một năm
Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), lãi suất cho vay bình quân trong tháng 6 tăng thêm 0,4 điểm phần trăm so với tháng trước. Thực tế công bố từ nhiều ngân hàng thương mại cho thấy, lãi suất cho vay bình quân hiện đã tiến sát hoặc vượt ngưỡng 10%/năm. Đối với khách hàng cá nhân, đặc biệt các khoản vay tiêu dùng hoặc vay tín chấp, mức lãi suất phổ biến dao động từ 10-11%/năm, thậm chí cao hơn tùy thuộc vào mức độ rủi ro, tài sản bảo đảm và năng lực tài chính của khách hàng.
Tại BVBank, lãi suất cho vay bình quân trong tháng 6 đạt 10,57%/năm, trong đó khách hàng cá nhân vay với mức bình quân 10,45%/năm, khách hàng doanh nghiệp là 10,77%/năm. Chênh lệch giữa lãi suất huy động và cho vay bình quân ở mức 3,03%/năm.
BaoViet Bank công bố lãi suất cho vay bình quân lên tới 10,85%/năm. Riêng nhóm khách hàng doanh nghiệp có mức bình quân 10,96%/năm, còn khách hàng cá nhân là 8,36%/năm. Chênh lệch giữa lãi suất huy động và cho vay đạt khoảng 4,15%/năm.
Tại OCB, lãi suất cho vay bình quân đối với khách hàng cá nhân đạt 10,78%/năm, trong khi Bac A Bank công bố mức bình quân 10,35%/năm. TPBank cũng ghi nhận lãi suất cho vay bình quân 10,28%/năm, trong đó khách hàng cá nhân ở mức 10,95%/năm và khách hàng doanh nghiệp khoảng 9,93%/năm.
Một số ngân hàng vẫn duy trì mặt bằng thấp hơn như ACB với lãi suất bình quân các khoản vay giải ngân mới khoảng 9,06%/năm hay VCBNeo khoảng 9,2%/năm. Tuy nhiên, đây chủ yếu là mức bình quân đối với các khoản vay mới, còn lãi suất thực tế của từng khách hàng vẫn phụ thuộc vào thời hạn vay, tài sản bảo đảm, lĩnh vực kinh doanh cũng như mức độ tín nhiệm.
Theo nhiều chuyên gia, sự gia tăng của lãi suất cho vay không phải là hiện tượng đơn lẻ mà phản ánh sự thay đổi của cung - cầu vốn trên thị trường. Khi tín dụng tăng nhanh, nhu cầu huy động vốn của các ngân hàng cũng lớn hơn, kéo theo chi phí đầu vào tăng lên và cuối cùng được phản ánh vào mặt bằng lãi suất cho vay.
.jpg)
Lãi suất cho vay bình quân tháng 6-2026 tăng mạnh nhất kể từ giữa năm ngoái
Áp lực còn kéo dài, lãi suất khó quay về vùng thấp
Lý giải nguyên nhân lãi suất tăng, TS Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia cho rằng, nhu cầu vốn của nền kinh tế đang phục hồi mạnh khi mục tiêu tăng trưởng GDP được nâng lên. Điều này kéo theo tăng trưởng tín dụng cũng như nhu cầu vốn của doanh nghiệp tăng đáng kể.
Theo TS Cấn Văn Lực, trong bối cảnh tín dụng mở rộng nhanh, các ngân hàng phải tăng cường huy động vốn để đáp ứng nhu cầu giải ngân. Chi phí huy động cao hơn sẽ tạo áp lực lên lãi suất cho vay. Dù vậy, vị chuyên gia này cũng nhận định lãi suất thời gian tới khó tăng mạnh thêm nhưng khả năng giảm sâu cũng rất thấp. Nếu có điều chỉnh, mức giảm sẽ chỉ ở biên độ nhỏ chứ khó quay trở lại vùng thấp như giai đoạn trước.
Nhiều chuyên gia cho rằng, mặt bằng lãi suất hiện đã bước vào trạng thái cân bằng mới khi nền kinh tế phục hồi, nhu cầu vốn gia tăng và các ngân hàng phải bảo đảm an toàn thanh khoản. Các chuyên gia cũng nhận định lãi suất khó có thể trở lại mức thấp của giai đoạn kích thích kinh tế sau đại dịch, do bối cảnh vĩ mô đã thay đổi đáng kể. Điều hành lãi suất trong thời gian tới sẽ phải hài hòa nhiều mục tiêu cùng lúc, bao gồm hỗ trợ tăng trưởng, kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng. Vì vậy, dư địa giảm mạnh lãi suất cho vay là không lớn.
Bên cạnh đó, giới phân tích cũng cho rằng khả năng giảm thêm của lãi suất cho vay đang bị thu hẹp bởi nhiều yếu tố. Thứ nhất là áp lực từ lãi suất huy động. Trong nửa đầu năm, nhiều ngân hàng đã điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi nhằm thu hút nguồn vốn trung và dài hạn. Nếu xu hướng này tiếp diễn trong nửa cuối năm, chi phí vốn của các tổ chức tín dụng sẽ tiếp tục tăng, khiến việc giảm lãi suất cho vay trở nên khó khăn hơn.
Thứ hai là áp lực thanh khoản khi tín dụng tăng nhanh hơn tốc độ huy động vốn. Để bảo đảm các tỷ lệ an toàn, ngân hàng phải duy trì nguồn vốn ổn định với chi phí hợp lý, từ đó hạn chế khả năng hạ lãi suất.
Bên cạnh đó, lạm phát và tỷ giá vẫn là những biến số quan trọng. Nếu giá năng lượng, nguyên vật liệu nhập khẩu tiếp tục biến động hoặc đồng USD duy trì sức mạnh trên thị trường quốc tế, NHNN nhiều khả năng sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ theo hướng thận trọng nhằm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Điều này đồng nghĩa với việc mặt bằng lãi suất khó có điều kiện giảm sâu.
Một yếu tố khác là áp lực lên biên lãi ròng (NIM) của các ngân hàng. Trong bối cảnh cạnh tranh huy động vốn ngày càng gay gắt, nếu tiếp tục giảm mạnh lãi suất cho vay trong khi chi phí huy động không giảm tương ứng, hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng đáng kể.
Các chuyên gia đánh giá, hệ thống ngân hàng hiện phải cân bằng giữa hai mục tiêu: hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn với chi phí hợp lý và bảo đảm hoạt động kinh doanh an toàn, hiệu quả. Đây sẽ là bài toán không dễ trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế tiếp tục gia tăng.
Tuy nhiên, nhiều ý kiến cũng cho rằng, mặt bằng lãi suất hiện nay vẫn được đánh giá là phù hợp với bối cảnh kinh tế vĩ mô. Chính phủ vẫn đang theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao, do đó chính sách tiền tệ nhiều khả năng sẽ tiếp tục ưu tiên ổn định mặt bằng lãi suất thay vì thắt chặt mạnh.
Nếu áp lực tỷ giá hạ nhiệt, lạm phát được kiểm soát tốt và thanh khoản hệ thống cải thiện trong thời gian tới, lãi suất cho vay có thể giảm nhẹ đối với một số lĩnh vực ưu tiên như sản xuất, xuất khẩu, nông nghiệp hay doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, kịch bản lãi suất quay trở lại vùng thấp như những năm trước được đánh giá là khó xảy ra.
Trong bối cảnh đó, các chuyên gia khuyến nghị doanh nghiệp cần chủ động cơ cấu lại dòng tiền, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đa dạng hóa nguồn huy động ngoài tín dụng ngân hàng và tận dụng các chương trình cho vay ưu đãi nếu đáp ứng điều kiện. Về phía người vay cá nhân, cần cân nhắc kỹ khả năng trả nợ, lựa chọn kỳ hạn và phương án vay phù hợp để hạn chế rủi ro khi mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao trong thời gian tới.
Lệ Giang /Báo Hànộimới